Vai trò và cơ chế hoạt động của thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng là gì? Tại sao mọi doanh nghiệp đều cần loại hóa đơn có thuế GTGT trong quá trình sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch vụ? Vai trò và cơ chế hoạt động của thuế GTGT là gì? Kế toán Việt Hưng sẽ giải đáp mọi thắc mắc của bạn đọc trong bài viết dưới đây và nêu bật tầm quan trọng của loại thuế này? 

 

thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT

Theo Điều 2 Luật Thuế giá trị gia tăng, thuế giá trị gia tăng (VAT) là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

VAT là một loại thuế gián thu, đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hóa từ khi còn là nguyên liệu thô sơ đến hoàn thiện.

Tầm quan trọng của hóa đơn có VAT 

Thuế GTGT có ghi trên hóa đơn đầu vào (liên đỏ) khi bạn mua hàng hóa, dịch vụ là thuế GTGT đầu vào. Thuế GTGT có ghi trên hóa đơn đầu ra (liên xanh hoặc liên tím) khi bạn bán hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng là thuế GTGT đầu ra.

Trong một tháng:

  • Nếu thuế GTGT đầu vào > thuế GTGT đầu ra: công ty sẽ được Nhà nước cho khấu trừ hoặc hoàn tiền thuế bằng phần chênh lệch.
  • Nếu thuế GTGT đầu vào < thuế GTGT đầu ra: công ty sẽ nộp thuế cho Nhà nước bằng phần chênh lệch.

1. Đặc điểm của thuế GTGT

– Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT (vì vậy thuế GTGT là một loại thuế tiêu dùng, đối với cơ sở kinh doanh thì đây là loại thuế gián thu), là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và dịch vụ, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác giá cả hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT.

VÍ DỤ

Giá hàng hoá, dịch vụ chưa thuế là: 100Thuế suất thuế GTGT là 10% => Thuế GTGT là 10Giá người tiêu dùng phải trả là: 100 + 10 = 110 (giá bao gồm cả thuế GTGT)

– Tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện: người mua hàng hoá, dịch vụ là người phải trả khoản thuế này thông qua giá mua của hàng hoá, dịch vụ. Như vậy, người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hoá và dịch vụ cho người bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT mà người mua trả. Người bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp “đã được người mua trả” vào NSNN.

– Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.

Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng. Tuy nhiên, trên thực tế khó xác định được đâu là khâu bán hàng cuối cùng, đâu là khâu bán hàng trung gian. Do vậy cứ có hành vi mua hàng là phải tính thuế. Số thuế GTGT ở khâu trước sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng ở khâu sau và người tiêu dùng cuối cùng là người phải trả toàn bộ số thuế GTGT đánh trên hàng hoá đó. Tổng số thuế người tiêu dùng cuối cùng phải trả bằng tổng số thuế phát sinh qua từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.

VÍ DỤ

Giả sử vải bán trên thị trường được luân chuyển qua các khâu: từ bông kéo thành sợi, sợi dệt thành vải và bán trên thị trường, thuế suất thuế GTGT ở mỗi khâu là 10%, có bảng sau:

Cơ sở kinh doanh Giá mua Giá bán (chưa có thuế GTGT) Giá trị gia tăng Số thuế GTGT phải nộp
(1) (2) (3) (4) = (3) – (2) (5) = (4)*10%
Bông 1000 1000 100
Sợi 1000 1500 500 50
Vải 1500 2300 800 80
Bán trên thị trường 2300 3000 7000 70
Tổng cộng 3000 300

Qua bảng trên thấy ở mỗi khâu luân chuyển thì cơ sở kinh doanh đều phải nộp thuế GTGT trên GTGT tương ứng của khâu đó, và tổng số thuế GTGT ở các khâu cộng lại chính bằng số thuế cuối cùng mà người tiêu dùng phải chịu (100 + 50 + 80 + 70 = 300).

So với thuế doanh thu thấy: thuế doanh thu quy định doanh thu phát sinh là cơ sở để thực hiện chế độ thu nộp thuế. Do đó Nhà nước đánh thuế trên toàn bộ doanh thu phát sinh của sản phẩm qua mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Nếu các sản phẩm, hàng hoá chịu thuế càng qua nhiều khâu thì số thuế Nhà nước thu cũng tăng thêm qua các khâu nên việc áp dụng thuế doanh thu dẫn đến tình trạng thuế thu trùng lặp đối với phần doanh thu đã chịu thuế ở công đoạn trước. Ðiều đó mang tính bất hợp lý, tác động tiêu cực đến sản xuất và lưu thông hàng hoá. Như vậy, đặc điểm trên cho thấy thuế GTGT đã khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu là “thuế chồng lên thuế”.

– Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao. Tính trung lập biểu hiện ở 2 khía cạnh: 

+ Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hoá dịch vụ.

+ Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít.

– Về phạm vi đánh thuế: thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu

2. Vai trò của thuế GTGT

a. Trong lưu thông hàng hóa

  • Áp dụng thuế VAT thay cho thuế doanh thu không ảnh hưởng đến giá sản phẩm tiêu dùng. Mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh được thuế chồng lên thuế.
  • Thuế VAT không phải là một nhân tố gây ra lạm phát, gây khó khăn trở ngại cho việc phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá .
  • Việc áp dụng thuế VAT góp phần ổn định giá cả, mở rộng lưu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu.

b. Trong quản lý kinh tế nhà nước

  • Tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước.
  • Tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ nên không phải đi sâu xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ của các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu.
  • Tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa.
  • Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao
  • Nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người nộp thuế
  • Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ; việc tính thuế đầu ra được khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán cùng thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ.
  • Khuyến khích hiện đại hoá, chuyên môn hoá sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm.
  • Góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và phát triển của nền kinh tế  thị trường, góp phần đẩy mạnh việc mở rộng hợp tác kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

3. Cơ chế hoạt động của thuế giá trị gia tăng

Cơ sở của thuế giá trị gia tăng là khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Thế nên cơ chế hoạt động của thuế VAT được quy định như sau:

  • Sản phẩm, hàng hoá dù qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, đều chịu thuế như nhau.
  • Thuế VAT là loại thuế duy nhất thu theo phân đoạn chia nhỏ, trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá  từ nguyên liệu đến thành phẩm và đến người tiêu dùng. Ðến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng.
  • Thuế VAT có điểm cơ bản khác với thuế doanh thu là chỉ có người bán hàng (hoặc dịch vụ) lần đầu phải nộp thuế giá trị gia tăng trên toàn bộ doanh thu bán hàng (hoặc cung ứng dịch vụ). Còn người bán hàng (hoặc dịch vụ) ở các khâu tiếp theo đối với hàng hoá (hoặc dịch vụ) đó, chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm.
  • Thuế VAT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả sản xuất, kinh doanh của đối tượng nộp thuế,cũng không phải là yếu tố của chi phí mà chỉ là khoản được cộng thêm vào giá bán của đối tượng cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
  • Trong giá bán hàng đã bao gồm thuế VAT nên thuế VAT là do người bán hàng đã thay người tiêu dùng nộp vào kho bạc của nhà nước từ trước đó.

Thuế GTGT là một lọai thuế đánh lên hành vi tiêu dùng nhưng suy cho cùng thì mục đích của lọai thuế này cũng nhằm vào thu nhập của người dân. Qua bài viết, bạn đọc đã hiểu được cơ bản về thuế VAT và cơ chế, vai trò của thuế. Hy vọng, bài viết trở thành tài liệu tham khảo hữu ích. 

avatar
  Theo dõi  
Thông báo cho